Blog Việt

Archive for the ‘Thị Trường’ Category

Biến nguy cơ thành cơ hội

Đăng bởi longlong on 04/04/2008

Nhân chuyện chống lạm phát để “chụp x-quang” nền kinh tế, có phương sách đúng loại bỏ bệnh tật, giúp cái giá phải trả cho chống lạm phát không quá đắt, đồng thời biến nguy cơ thành cơ hội. Ý kiến của Nguyễn Trung.

>> Thủ tướng hạ quyết tâm giải quyết khó khăn đất nước
>> Chống lạm phát: Gõ cùng một phách
>> Nói với dân về khó khăn
>> 
Sống chung với lạm phát

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trung.

Cuối cùng thì nỗi lo được giảm bớt: Chống lạm phát đã được coi là ưu tiên hàng đầu. Nhận thức này cho phép tập trung mọi nỗ lực có thể vào nhiệm vụ chống căn bệnh cấp tính của nền kinh tế. Bởi lẽ mọi do dự theo kiểu vừa chữa cháy vừa thổi cơm sẽ có nguy cơ để cho ngọn lửa lạm phát nuốt chửng tất cả.

Quyết tâm chống lạm phát đặt đất nước trước 2 vấn đề lớn:

- Chống lạm phát như thế nào với cái giá tối ưu nhất?

- Phát triển đất nước sau trận lạm phát này như thế nào?

Hai câu hỏi trên liên quan mật thiết với nhau, song có giải quyết tốt câu hỏi 1 mới có triển vọng giải quyết tốt câu hỏi 2.

Bộ tư lệnh tác chiến chống lạm phát

Về câu hỏi 1: Lời giải khá rõ trong 8 giải pháp Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã nêu lên[1], nhìn chung được đánh giá cao là trúng vấn đề và có quyết tâm, nhằm vào 3 cụm vấn đề (a) siết chặt tiền tệ, (b) loại bỏ đầu tư kém hiệu quả, (c) giảm sốc cho các biện pháp đau đớn.

Qua các cuộc họp, Thủ tướng cũng đã “phát lệnh” cho các bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp “xung trận” chống lạm phát, kêu gọi sự hợp tác cộng hưởng của toàn dân. Nền kinh tế đất nước vẫn ở tuổi đang lớn và có sức hấp dẫn, về cơ bản Việt Nam vẫn đang ở trong bối cảnh quốc tế thuận lợi.

Bây giờ tất cả phụ thuộc vào sự thực hiện, xin lưu ý những vấn đề sau đây:

1. Tình hình khẩn cấp, kiến nghị nên có một cơ chế làm việc khẩn cấp, dưới dạng một “task forces” với sự giúp đỡ của một tập hợp cán bộ kỹ trị, có thể tham vấn ý kiến chuyên gia nước ngoài. Cơ chế này tùy sự lựa chọn của Thủ tướng, có thể là Thường trực Chính phủ, có thể là Bộ tư lệnh tác chiến chống lạm phát do Thủ tướng lựa chọn (xin tạm gọi như vậy).

Nhóm này có chức năng: thực hiện tổng rà soát các vấn đề liên quan nhằm bảo đảm thực hiện 8 giải pháp, lên ngay chương trình hành động, nhân danh Chính phủ trực tiếp chỉ huy thực hiện 8 giải pháp. Ủy ban giám sát tài chính Quốc gia đảm nhận mặt trận riêng của nó trong cuộc chiến chung này song không thay thế được cơ chế tư lệnh chống lạm phát.

2. Bổ sung việc giao chỉ tiêu cắt giảm 10% chi phí hành chính và bổ sung việc giao yêu cầu cắt giảm đầu tư kém hiệu quả, Bộ tư lệnh nên lên kế hoạch xét duyệt chương trình thực hiện 8 biện pháp của toàn thể các cấp Bộ, ngành, địa phương (cấp tỉnh) và các tập đoàn lớn, quyết định xử lý ngay những vấn đề lớn; trực tiếp hàng ngày đôn đốc và kiểm soát thực hiện chương trình 8 giải pháp của các ngành các cấp.

Chương trình thực hiện 8 điểm này phải được coi như một “bộ Luật khẩn cấp”.

3. Tình hình vừa qua đòi hỏi một loạt các biện pháp hành chính – như vấn đề biên độ giao dịch trên sàn chứng khoán, vấn đề lãi suất ngân hàng, vấn đề trái phiếu, vấn đề giá cả một số mặt hàng thiết yếu, hạn chế xuất khẩu lương thực… Sắp tới không loại trừ còn phải “ra” tiếp các quyết định hành chính như vậy.

Tuy nhiên Bộ tư lệnh nên chỉ đạo và kiểm soát hàng ngày việc thực hiện có hiệu quả những quyết định “hành chính” này theo hướng loại bỏ chúng càng sớm càng tốt (ngoại trừ vấn đề an ninh lương thực).

Trước mắt vận dụng bàn tay của kỹ trị tập trung chỉ đạo đưa tỷ giá trở về sát thị trường, kiểm soát chặt chẽ các dòng vốn theo hướng lái chúng vào sản xuất kinh doanh, làm thông suốt thị trường vốn.

Khám bệnh cho nền kinh tế để trị bệnh, đảm bảo phát triển lâu dài. Ảnh minh họa: Internet.

4. Bộ tư lệnh cần kiên quyết cắt “hộ khẩu” hai đứa “con lai” của các tập đoàn kinh tế lớn ra khỏi gia đình chúng: (1) ngân hàng thương mại, (2) kinh doanh địa ốc. Nhà nước có thể tiếp tục cho phép các tập đoàn kinh doanh các ngành nghề khác với sản phẩm chính của tập đoàn tới mức 30% tổng vốn để khỏi trái Luật hiện hành, nhưng dứt khoát cắt hộ khẩu 2 đứa “con lai” này.

5. Bộ tư lệnh trực tiếp kiểm soát gắt gao việc các doanh nghiệp và các địa phương thực hiện các biện pháp “giảm sóc”. Sự tự nguyện của các ngành các cấp là đáng trân trọng, song sự đôn đốc rốt ráo của Bộ tư lệnh là quyết định[2]

Cơ hội thành nguy cơ?

Về câu hỏi 2: Cho đến nay vẫn còn ngần ngại nói thẳng ra lạm phát hiện nay có nguồn gốc sâu xa từ cơ cấu kinh tế và hệ thống điều hành vĩ mô, mà chỉ nói nhiều về tiền tệ, giá cả, tác động của kinh tế thế giới[3].

Sự thật không chỉ có lạm phát hiện nay nóng, mà lạm phát đang làm bộc lộ một cuộc khủng hoảng lớn hơn đang thai nghén từ lâu.

10 năm liên tục (1998 – 2007) chỉ số ICOR tính trung bình là 5,2/năm – trong khi các nước trong khu vực vào thời gian này là 2 – 3, nhập siêu thường xuyên và ngày càng lớn, kinh tế quốc doanh giữ vai trò chủ đạo với khoảng trên 60% tổng vốn đầu tư toàn xã hội nhưng chỉ làm ra khoảng 40% của cải hàng năm, tham nhũng và quan liêu làm thất thoát ước tính khoảng 15 – 20% tổng đầu tư hàng năm (thực ra có thể hơn vì những tổn thất do các dự án dang dở đem lại rất lớn, chưa kể những dự án không có hiệu quả kinh tế).

Trong 3 năm gần đây kinh tế tăng trưởng khoảng 27% song lượng tiền in ra tăng khoảng 135%, tình trạng đầu cơ trên thị trường chứng khoán dẫn tới vỡ bong bóng như hiện nay, tình trạng bệnh hoạn hiểm nghèo của thị trường bất động sản, tình trạng nền kinh tế “GDP tỉnh”, tác động của tư tưởng “nhiệm kỳ”, những vấn đề tồn tại lớn trong nông nghiệp và nông thôn trong quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa, sự xuống cấp của chất lượng cuộc sống, sự phân hóa giàu nghèo gay gắt…

Đó là những vấn đề của cơ cấu kinh tế và hệ thống.

Tình hình trên bị nhiều yếu tố trong ngoài rất thuận lợi che khuất.

Song vào năm 2007, khi khả năng phát triển kinh tế theo chiều rộng đã tới trần và nước ta hội nhập toàn diện vào kinh tế thế giới, lại thêm tình trạng đầu cơ trên thị trường chứng khoán và thị trường bất động sản lên tới đỉnh điểm, cùng với với biện pháp tung tiền mặt mua vào 10 tỷ USD làm dự trữ ngoại tệ[4], tất cả đã làm nên 5 tháng lao đao vừa qua. Cơ hội đột nhiên biến thành nguy cơ[5].

Có thể đo tình hình này bằng các con số: Lạm phát từ 1998 đến 2006 thường xuyên xấp xỷ mức tăng trưởng của GDP hàng năm, nhưng năm 2007 – năm thuận lợi nhất cho nước ta trong suốt 22 năm đổi mới – nhảy vọt lên 12,6%.

Quyết định chính trị và khả năng kỹ trị?

Muốn biến nguy cơ hiện nay thành cơ hội loại bỏ những yếu kém để sau chống lạm phát xong sẽ đi vào một giai đoạn phát triển mới bền vững, thì việc đầu tiên là phải đủ can đảm tập trung trí tuệ phân tích khách quan tình hình kinh tế đất nước hiện nay.

Điều cần lưu ý là chúng ta chống lạm phát trong tình hình phải hội nhập ngày càng sâu rộng, giữa lúc giá cả trên thị trường thế giới tăng đột biến, tác động của suy thoái kinh tế Mỹ đối với kinh tế thế giới, mặt khác thiên tai dịch bệnh ở nước ta (cũng như nhiều nước khác trong khu vực) đang có xu hướng tăng lên. Chính thực tế khách quan rất phức tạp này làm cho việc chống lạm phát có nhiều khó khăn cùng một lúc, giải pháp này có nguy cơ triệt tiêu giải pháp kia.

Thực tế này vừa đòi hỏi phải có những biện pháp kỹ trị đứng lên trên các lợi ích nhóm, vừa phải có những quyết định chính trị vì lợi ích toàn cục của nền kinh tế. Vì vậy người làm chính sách, mỗi cán bộ, nhà kinh doanh và người dân phải hiểu rõ thực trạng nền kinh tế đất nước để tự mình có những quyết định đúng đắn tham gia chống lạm phát một cách tự giác.

Sự hợp tác cộng hưởng của toàn dân chống lạm phát mà Thủ tướng đang kêu gọi chỉ có thể được tạo ra trên cơ sở sự tự giác này. Làm được như vậy, việc thực hiện 8 biện pháp sẽ có được sự hậu thuẫn và sự giám sát vô giá.

Về dài hạn, cần nhân việc chống lạm phát hiện nay rà soát lại với tinh thần “chụp x-quang” toàn bộ hệ thống kinh tế, hệ thống tổ chức và con người rút ra những kết luận cần thiết cho việc tiếp tục công cuộc đổi mới.

Làm được như vậy, cái giá phải trả cho chống lạm phát sẽ không phải là quá đắt và cũng đáng bõ công. Không ai muốn có tình trạng lạm phát như hiện nay, song câu chuyện đã xảy ra, cần biến cái không may thành cái may là thực hiện cái cơ hội “chụp x-quang” để có phương sách đúng loại bỏ bệnh tật. Bởi vì, để trở thành một nước công nghiệp hóa theo hướng hiện đại, trước sau mọi yếu kém đều phải gỡ bỏ.

  • Nguyễn Trung

Hà Nội, ngày 3 tháng 4 – 2008

—————————-
[1] Bài viết của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ngày 30/03/2008 ghi là 7 biện pháp

[2] Ngay sau khi Thủ tướng họp với các địa phương và doanh nghiệp về 8 giải pháp, đã lác đác có ý kiến nói lảng ra, cho là khó thực hiện, vấn đề nằm ở đâu đó chứ không phải trong tập đoàn của tôi v… v…

[3] Các nước trong khu vực – kể cả nền kinh tế “nóng” Trung Quốc – chỉ số lạm phát hiện nay vẫn chỉ là một con số.

[4] Biện pháp này mang lại thua thiệt đơn kép và không thể so với dự trữ ngoại tệ do xuất siêu đem lại, các biện minh cho biện pháp này không thuyết phục.

[5] Tham khảo: Nguyễn Trung, “Ngã ba 2007”, Tia Sáng Online ngày 11/12/2007.

Đăng trong Thị Trường | Tagged: | Leave a Comment »

Thị trường tiền tệ chuyển biến tích cực

Đăng bởi longlong on 25/03/2008

Sáng nay (25/3), Ngân hàng Nhà nước đã có báo cáo về một số tình hình hoạt động của thị trường tiền tuần qua, trong đó có một nhận định hiếm thấy là: “Ấn tượng”.

Lãi suất chính thức ổn định

Theo cơ quan này, do thực hiện tốt các công cụ điều hành chính sách tiền tệ, lãi suất trên thị trường liên ngân hàng hiện đã đi vào ổn định, không còn tình trạng biến động lãi suất quá cao như trong những ngày giáp Tết và sau Tết nguyên đán.

Bất ổn về lãi suất, khó khăn về tỷ giá
bước đầu đã được hạn chế

Lãi suất trên thị trường liên ngân hàng từ đầu tháng đến nay đang có xu hướng giảm dần, mức giảm cao nhất trên thị trường cho vay qua đêm là từ 8,57%/năm xuống 5,14%/năm (3,43 điểm); trên thị trường 2 tuần cũng có mức giảm tương đối ấn tượng từ 12,06%/năm xuống 8,86%/năm (3,2 điểm).

Đến 14/3, lãi suất VND và USD trên thị trường qua đêm chỉ ở mức 5,62 và 3,73%/năm; lãi suất trên thị trường 1 tuần, 2 tuần cũng chỉ ở mức 9,21- 8,86%/năm cho VND và 3,68-3,95%/năm cho USD; còn trên thị trường cho vay theo tháng, thì lãi suất cho vay 1 tháng là 11,73% /năm cho VND, 4,38%/năm cho USD, nhưng lãi suất 12 tháng thì chỉ đứng ở mức 9,41%/năm cho VND và 5,82%/năm cho ngoại tệ.

Lãi suất huy động, cho vay bằng VND của các ngân hàng cũng tương đối ổn định. Lãi suất huy động kỳ hạn 12 tháng phổ biến ở mức 10,13% đối với ngân hàng thương mại nhà nước, 11,78% đối với ngân hàng thương mại cổ phần.

Lãi suất cho vay phổ biến tại các khối ngân hàng quốc doanh, ngắn hạn khoảng 12,6- 14,6%/năm, trung và dài hạn khoảng 13,5- 16,2%/năm; tại khối cổ phần, lãi suất ngắn hạn khoảng 18,42%/năm, trung và dài hạn khoảng 21,85%/năm.

Tỷ giá tăng mạnh trở lại

Về diễn biến tỷ giá, tính đến ngày 20/3, tỷ giá bình quân liên ngân hàng giữa đồng Việt Nam và đô la Mỹ đã giảm 0,35% so với đầu tháng và giảm 0,76% so với thời điểm đầu năm.

TIN LIÊN QUAN
“Nới” tỷ giá VND/USD: Những hệ quả không mong đợi
VND tăng giá chưa đủ “đô”
Hôm nay, tăng giá VND để giảm lạm phát
Tỷ giá USD và VND sẽ tiếp tục đi xuống
Tỷ giá VND/USD có xu hướng giảm
Thừa USD, nên chọn cất giữ đồng tiền nào?
Vàng và ngoại tệ: Sẽ còn biến động
Đột biến tỷ giá VND/USD

Tỷ giá niêm yết của các ngân hàng thương mại thời gian trên phổ biến ở mức 15.830/15.832 VND/USD, giảm 0,6 % so với đầu tháng và giảm 1,1 % so với đầu năm. Tỷ giá mua bán USD/VND trên thị trường tự do Hà Nội sau một thời gian giảm đã tăng trở lại mức 15.700/15.760 VND/USD, giảm 2,3% so với đầu năm. Tỷ giá mua bán trên thị trường Tp.HCM đang phổ biến ở mức 15.670/15750 VND/USD, giảm khoảng 2,25% so với đầu năm.

Tuy nhiên, trong ngày hôm nay (25/3), tỷ giá VND/USD trên thị trường ngân hàng bất ngờ có mức tăng mạnh, nổi bật nhất trong vòng một năm trở lại đây: tăng từ 15.825 VND lên tới 15.880 VND (giá bán ra). Diễn biến này khớp với diễn biến lãi suất trên thị trường và tín hiệu cần vốn ngoại tệ của các ngân hàng thời điểm này.

Như vậy, tình trạng ứ đọng ngoại tệ, tỷ giá giảm mạnh ảnh hưởng đến xuất khẩu… bước đầu đã có chuyển biến tích cực. Xu hướng tăng của tỷ giá đang định hình trở lại.

Về định hướng điều hành tỷ giá trong thời gian tới, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ “điều hành tỷ giá giữa đồng Việt Nam với đồng Đôla Mỹ nói riêng và các loại ngoại tệ nói chung theo hướng căn cứ vào cung cầu trên thị trường, với biên độ giao động +/- 2%”.

Tùy thuộc vào diễn biến cung cầu ngoại tệ trên thị trường và các cân đối vĩ mô tổng thể của nền kinh tế, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước sẽ có những quyết định cụ thể trong từng thời kỳ đối với biên độ giao động tỷ giá của các ngân hàng được phép hoạt động ngoại hối so với tỷ giá bình quân liên ngân hàng.

Theo Minh Đức –

Đăng trong Thị Trường | Tagged: | Leave a Comment »

“Bắt bệnh” trị lạm phát

Đăng bởi longlong on 24/03/2008

Lạm phát tại VN vẫn diễn biến phức tạp, làm gia tăng thất nghiệp, bóp nghẹt đời sống người dân và nảy sinh nguy cơ suy thoái kinh tế. Cần chỉ ra căn nguyên của lạm phát và tiếp cận những kiến giải, biện pháp để ngăn chặn. Báo NLĐ mở chuyên đề này qua góc nhìn của các chuyên gia

Một báo cáo gần đây của nhóm các chuyên gia kinh tế ĐH Harvard (Mỹ) đã chỉ ra những nguyên nhân chính dẫn đến tình hình lạm phát tại VN hiện nay. Nhóm chuyên gia này khẳng định nguyên nhân gốc rễ của lạm phát ở VN không phải do tác động của giá thế giới.

Tốc độ tăng cung tiền quá nhanh

Một trong những nguyên nhân gây
 lạm phát ở nước ta là giá của những
 loại hàng hóa chủ yếu sản xuất trong
 nước phải rượt đuổi tốc độ cung tiền.
Ảnh: T.THẠNH

Trong bối cảnh giá dầu thế giới liên tục tăng, lượng ngoại tệ từ xuất khẩu dầu thô của VN nhờ đó cũng tăng mạnh. Trong khi đó, các khoản viện trợ chính thức, vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (FDI), vay nợ và kiều hối vẫn tiếp tục ùn ùn đổ vào VN. Kể từ năm 2003, doanh số bán lẻ danh nghĩa của VN liên tục tăng với tốc độ trên 20%/năm. Đầu tư còn tăng nhanh hơn nữa trong khi lượng cung thực (đo bằng sản lượng cộng thâm hụt thương mại thực) chỉ tăng dưới 10%/năm. Nếu như chi tiêu tăng hơn 20%, trong khi lượng cung thực tăng chưa đến nửa số đó thì chênh lệch giữa hai đại lượng phải là  lạm phát .

Đọc tiếp »

Đăng trong Thị Trường | Tagged: | Leave a Comment »

Hôm nay, tăng giá VND để giảm lạm phát

Đăng bởi longlong on 10/03/2008

Động thái này sẽ khiến VND lên giá so với USD để thực hiện mục tiêu giảm lạm phát , nhưng cũng sẽ làm cho xuất khẩu trở nên khó khăn hơn.  

VND sẽ tăng giá

Tiền VND sẽ tăng giá

Hồi cuối tháng 12-2007, biên độ tỷ giá đã được Ngân hàng Nhà nước điều chỉnh tăng từ +_ 0,5% lên +_ 0,75%. Tuy nhiên, chỉ trong 2 tháng qua, biến động không ngừng của giá đồng USD đã khiến chính sách tỷ giá hối đoái tiếp tục có sự điều chỉnh. Từ đầu năm đến nay, giá VND đã tăng 0,5% so với đồng USD (riêng trên thị trường tự do đã tăng gần 1%).

Theo Ngân hàng Nhà nước, với biên độ +_ 1%, các ngân hàng thương mại sẽ có điều kiện ấn định tỷ giá mua bán linh hoạt hơn sát với cung cầu ngoại tệ trên thị trường. Cơ chế tỷ giá ngày càng linh hoạt hơn sẽ đòi hỏi các ngân hàng và thành viên tham gia thị trường ngoại hối phải nâng cao khả năng phòng ngừa rủi ro về biến động tỷ giá, để đảm bảo hiệu quả sản xuất kinh doanh. Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, ông Nguyễn Đồng Tiến dự báo, nới rộng biên độ tỷ giá, đồng Việt Nam sẽ tăng giá ở một mức nhất định. Điều này sẽ có tác động tích cực đến kiềm chế lạm phát và phản ánh chính xác hơn tình hình cung cầu trên thị trường.

Theo chuyên gia kinh tế Huỳnh Thế Du (Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright), trong “gói” 19 giải pháp kiềm chế lạm phát được nêu ra trong văn bản 319/TTg-KTTH của Chính phủ, giải pháp về tỷ giá sẽ có tác động lớn nhất. Theo ông Du, lạm phát xảy ra khi cung tiền lớn hơn lượng hàng hoá trong nền kinh tế. Để cân đối và kiềm chế lạm phát, bên cạnh việc rút bớt tiền trong lưu thông về, nhà điều hành phải tạo môi trường để kích thích tăng hàng hóa, dịch vụ. Môi trường ở đây trực tiếp tác động đến giá hàng nhập khẩu. Khi VND có cơ hội lên giá so với USD, giá hàng hóa, nguyên liệu, thiết bị đầu vào cho sản xuất, kinh doanh rẻ đi, bởi hiện đồng USD vẫn chiếm tỷ trọng khoảng 80% trong thanh toán xuất nhập khẩu của Việt Nam.

Xuất khẩu sẽ khó khăn

Trả lời báo chí mới đây, Phó Thủ tướng Thường trực Nguyễn Sinh Hùng cho rằng VND tăng giá sẽ ảnh hưởng đến xuất khẩu, nhưng theo ông, phải điều chỉnh tỉ giá VND thật linh hoạt “để có lợi nhất cho sản xuất phát triển kinh tế, chứ không đóng khung là chỉ xuống giá để có lợi cho xuất khẩu, hay chỉ lên giá để lợi nhập khẩu”. Vấn đề đáng bàn hiện nay là làm sao mở rộng được thị trường, tăng sức cạnh tranh cho hàng xuất khẩu thì mới có thể giảm bớt được thiệt hại, tránh nhập siêu quá lớn.  

Tuy nhiên, với chính sách mở rộng biên độ tỷ giá, xuất khẩu chắc chắn sẽ khó khăn hơn, khả năng cạnh tranh bị ảnh hưởng hoặc kim ngạch thu về sẽ bị sụt giảm. Phó Thống đốc Nguyễn Đồng Tiến cho biết, việc này vẫn có nhiều ý kiến khác nhau và Ngân hàng Nhà nước sẽ tiếp tục theo dõi để có điều hành một cách linh hoạt. Còn theo ông Huỳnh Thế Du, chính sách VND yếu được Chính phủ theo đuổi lâu nay, chưa hẳn đã tốt cho xuất khẩu.

Diễn biến giá đồng USD trên thị trường tự do thời gian qua cho thấy chính sách tỷ giá của Ngân hàng Nhà nước đã có sự cách biệt khá lớn với thực tế. Trong khi tỷ giá giao dịch bình quân liên ngân hàng được Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức trên 16.000 đồng/USD, thì thị trường tự do chỉ chấp nhận mua với giá 15.500 đồng/USD.

Tỷ giá giao dịch của các ngân hàng thương mại cũng ở mức dưới 16.000 đồng/USD trong thời gian khá dài. Trên thị trường, bắt đầu xuất hiện tình trạng thừa USD, một số ngân hàng hạn chế mua vào. Diến biến này buộc chính sách tỷ giá hối đoái cần có sự thông thoáng hơn.

Lãi suất sẽ giảm?

Một giải pháp được Ngân hàng Nhà nước chú trọng thời gian tới là tiếp tục hỗ trợ vốn cho các ngân hàng thương mại để bảo đảm khả năng thanh toán thông qua hoạt động nghiệp vụ thị trường mở và các công cụ tái cấp vốn khác. Theo Phó Thống đốc NHNN Nguyễn Đồng Tiến, trước mắt NHNN sẽ ấn định mức “trần” lãi suất trong giao dịch nghiệp vụ thị trường mở xoay quanh 9-10%/năm, và thực hiện việc đưa tiền ra, rút tiền về một cách nhịp nhàng, tác động điều tiết và ổn định lãi suất thị trường liên ngân hàng, lãi suất huy động và lãi suất cho vay của các ngân hàng thương mại.

Phó Thủ tướng Thường trực Nguyễn Sinh Hùng đã chỉ đạo không nên duy trì lâu “trần” lãi suất huy động 12% như hiện nay, mà cần phải giảm xuống dần theo tình hình thị trường, nhưng vẫn phải đảm bảo lãi suất dương. Ông Nguyễn Đồng Tiến giải thích: Với mức lạm phát 6,02% trong 2 tháng đầu năm nay, mức “trần” lãi suất 12%/năm là bảo đảm nguyên tắc “thực dương”. Tuỳ theo diễn biến giá cả từ giờ đến cuối năm, Ngân hàng Nhà nước sẽ điều hành chính sách để lãi suất có thể giảm xuống.

“Tuy nhiên, nếu lạm phát cứ tiếp tục tăng cao thì mục tiêu này là rất khó khăn” – ông Tiến nói. Trước đó, Ngân hàng Nhà nước cũng đã có công văn tới Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam (VNBA) đề nghị phối hợp với 2 chi nhánh Ngân hàng Nhà nước tại Hà Nội và TP.HCM bàn bạc, thống nhất với các ngân hàng thương mại giảm dần lãi suất cho vay, lãi suất huy động VND. Tại cuộc họp tổ chức cuối tuần trước ở Hà Nội, các thành viên VNBA cũng đã thống nhất sẽ thực hiện nghiêm trần lãi suất 12%/năm, tính cả các hình thức khuyến mại hoặc trả lãi trước, và coi đây sẽ là thoả thuận trong tháng 3-2008.  

Theo

Đăng trong Thị Trường | Tagged: | Leave a Comment »

Liều thuốc cho “bệnh” lạm phát chưa phù hợp

Đăng bởi longlong on 28/02/2008

Hàng loạt chính sách tiền tệ được Ngân hàng Nhà nước đưa ra trong vòng một tuần qua như phát hành tín phiếu bắt buộc, bơm tiền đồng ra thị trường, giới hạn trần lãi suất cho vay… được các chuyên gia kinh tế đánh giá chưa đủ liều chữa “bệnh” lạm phát hiện nay.

Một chuyên gia kinh tế là giảng viên Fulbright tại TP.HCM nhận định, các chính sách hiện nay của Ngân hàng Nhà nước nhằm kiềm chế lạm phát thực chất là những biện pháp hành chính.

Ông cho rằng, theo thông lệ tài chính quốc tế, các giải pháp truyền thống nhằm ứng cứu thị trường tiền tệ biến động thường được áp dụng là dùng lãi suất , lãi suất chiết khấu… Ở Việt Nam, việc ngân hàng trung ương buộc các nhà băng thương mại mua tín phiếu bắt buộc với thời hạn một năm; hay không được huy động vốn với lãi suất quá 12% một năm, đều không giải quyết gốc lạm phát.

Thị trường tài chính tiền tệ từ sau Tết đến nay đầy biến động
 với việc thiếu tiền đồng, lãi suất tiết kiệm tăng cao, chứng
khoán giảm liên tục dưới 700 điểm… Ảnh: T.L

Thậm chí, theo ông, các biện pháp mà Ngân hàng Nhà nước đưa ra trong thời gian qua đã mang lại những hệ quả tiêu cực cho thị trường. Ví dụ khách hàng liên tục rút – gửi tiền tiết kiệm theo biến động lãi suất. Các nhà băng cũng cạnh tranh chạy đua nâng lãi suất một cách không lành mạnh, dẫn đến việc trung ương phải giới hạn trần lãi suất huy động.

“Các chính sách nhà băng rõ ràng chưa đầy đủ, liều lượng chưa phù hợp với căn bệnh tiền tệ, lạm phát hiện nay. Điều này đã gây sốc cho nền kinh tế vĩ mô, có thể nói đã làm chao đảo thị trường tài chính từ sau Tết đến nay”, chuyên gia kinh tế này khẳng định.

Chiều 26/2, Ngân hàng Nhà nước đã có văn bản yêu cầu các ngân hàng thương mại giới hạn mức lãi suất tiền gửi không quá 12% một năm.Biện pháp này đưa ra để hạn chế tình trạng các ngân hàng giành giật khách của nhau trong tình thế thiếu vốn huy động, chạy đua tăng lãi suất khiến người dân đổ xô nhau rút tiền từ nhà băng có lãi thấp chuyển sang ngân hàng trả lãi suất cao hơn, gây bất ổn thị trường.

Sáng nay, Ngân hàng Nhà nước chi nhánh TP HCM đã có cuộc họp với đại diện các nhà băng để thông báo quy định mới.  

Ông Đinh Sơn Hùng, chuyên gia của Viện Kinh tế TP.HCM còn cho rằng, các chính sách của Ngân hàng Nhà nước đến thời điểm này chỉ mang tính tình thế. Tuy nhiên ông không phủ nhận yếu tố tích cực của nó trong việc chống lạm phát hiện nay.

Ông Hùng đề nghị ngân hàng trung ương nên giữ vị trí quan sát viên, xem các nhà băng huy động lãi suất như thế nào. “Nếu đến mức nguy cơ sẽ đổ vỡ các tổ chức tín dụng thì Ngân hàng Nhà nước khi ấy mới cần can thiệp“, ông băn khoăn vì cho rằng ngân hàng trung ương đã vội tung chiêu áp quy định trần lãi suất tiết kiệm 12% một năm. Theo ông Hùng, nếu nhà nước áp đặt cho các ngân hàng mức lãi suất cao nhất không quá 12% một năm, sẽ không thu hút được lượng tiền lưu thông trên thị trường. Đến lúc nào đó lạm phát sẽ gia tăng hơn.

Với quan điểm ngược lại, chuyên gia kinh tế Trần Tô Tử đồng ý với những chính sách của Ngân hàng Nhà nước trong thắt chặt tiền tệ, kiềm chế lạm phát. Song ông lại không ủng hộ việc đưa ra và áp dụng cách “cưỡng chế” này chỉ trong khoảng thời gian ngắn. Ông nói: “Phải trải quy định ra các thời điểm khác nhau để thị trường không bị “dập” một cách đột ngột”.

Ở vị trí là Giám đốc Ngân hàng Nhà nước chi nhánh TP.HCM, ông Hồ Hữu Hạnh tin tưởng vào những biện pháp nhằm bình ổn thị trường tiền tệ đang được áp dụng. Ông cho rằng, cả một giai đoạn chiến lược đã được ngân hàng trung ương vạch ra nhằm kiềm chế tình trạng lạm phát. Hiện tại quá trình “kéo chân” giá cả, tiền tệ vẫn đang ở giai đoạn đầu, khoảng 3 tháng nữa mới đánh giá được kết quả.

TIN LIÊN QUAN
Xếp hàng gửi tiền
Ham lãi suất cao, khách hàng chưa chắc được lợi
Gửi và vay đều gặp khó!
Khách hàng đua rút tiền gửi tiết kiệm
Được “cứu”, lãi suất vẫn đột biến
Lãi suất VND qua đêm tăng tới 43%
Cuộc đua lãi suất chưa có điểm dừng

Người đứng đầu Ngân hàng Nhà nước tạo TP.HCM phân tích, nguyên nhân của tình trạng “nóng”, “thủng” thị trường tiền tệ hiện nay đã bắt đầu từ 3-4 năm trước. Bội chi ngân sách, đầu tư kém hiệu quả… đã xảy ra thời gian qua. Mỗi năm các chuyên gia ngành đều có khuyến cáo nhưng các nhà làm chính sách lại vô tâm bỏ qua. “Tích tiểu thành đại, kết quả là thị trường tiền tệ có quá nhiều sức ép như hiện nay. Do vậy, phải áp dụng các liều thuốc đắng, mạnh cho thị trường tiền tệ“, ông Hạnh nhận xét. Trần giới hạn lãi suất, buộc nhà băng thương mại mua tín phiếu thời hạn một năm… là các liều thuốc “dã tật” ấy, theo ông Hạnh.

Việc tăng giá xăng lên 1.500 đồng và dầu vượt 3.700 đồng vừa qua được nhìn nhận như “đổ dầu vào cơn lửa lạm phát”, có thể tác động trở lại những nỗ lực kiềm chế đang tiến hành.

Ông Hùng nêu quan điểm Nhà nước không nên bù lỗ giá xăng dầu mãi, phải để cho người dân quen với giá thị trường. Còn chuyên gia kinh tế Trần Tô Tử cho rằng, xăng dầu có thể tăng giá nhưng chỉ nên “tiệm tiến” từng bước một, tránh cơn chấn động cho nền kinh tế.

Các chuyên gia cho rằng nhiệm vụ trước tiên của nền kinh tế là chống lạm phát, nay lại tăng giá xăng chẳng khác nào đẩy lạm phát lên cao.

Theo Bạch Hường –

Đăng trong Thị Trường | Leave a Comment »

Cuộc đua lãi suất chưa có điểm dừng

Đăng bởi longlong on 19/02/2008

Cuộc đua lãi suất chưa có điểm dừng

“Bão” lãi suất tăng cấp, các ngân hàng đưa ra những giải pháp mới và có thể Ngân hàng Nhà nước sẽ nhượng bộ.

Trong ngày 18/2, thông tin lãi suất ngân hàng bạn trở thành tin nhắn nhộn nhịp của nhiều nhân viên tín dụng. Đây cũng là ngày cao trào của đợt biến động lãi suất từ sau kỳ nghỉ Tết.

Chưa có điểm dừng

Mở đầu tuần mới, thị trường ngân hàng dồn dập đón nhận thông tin tăng lãi suất. Với một ngân hàng, lần tăng thứ ba liên tiếp chỉ trong vòng chưa đầy ba tuần là tần suất điều chỉnh chưa từng có nhiều năm trở lại đây. Đỉnh cao lãi suất cũng chưa có điểm dừng.

Áp lực cạnh tranh lãi suất gia tăng khi
những ngân hàng lớn như ACB và
Sacombank vào cuộc

SCB, VPBank, Eximbank, ACB, Sacombank… lần lượt thông báo tăng mạnh lãi suất huy động VND. Mặt bằng lãi suất định hình quanh mốc 9,6%/năm (tương ứng 0,8%/tháng) tuần trước sau quyết định của Techcombank, VIB Bank… dâng thêm một mức mới. Trong các thông báo, thông tin “là ngân hàng có lãi suất cao nhất trên thị trường hiện nay” nhanh chóng bị lỗi thời.

Cuối tuần trước, đỉnh cao được xác định ở biểu lãi suất mới của Ngân hàng Đông Nam Á (SeABank); mức lãi suất bậc thang cao nhất của kỳ hạn 24 tháng VND lên tới 10,15%/năm. Nhưng ngay trong ngày 18/2, những con số cao hơn tiếp tục được công bố.

Chỉ riêng lãi suất kỳ hạn 12 tháng của của Ngân hàng TMCP Sài Gòn (SCB) cũng đã lên tới 10,44%/năm. Đây là ngân hàng có 3 quyết định điều chỉnh liên tiếp chỉ trong vòng chưa đầy 1 tháng qua. Nhưng thông tin “cao nhất trên thị trường” trong thông báo nhanh chóng thuộc về Ngân hàng Ngoài quốc doanh (VPBank), kỳ hạn 12 tháng chính thức đánh dấu mốc 10,5%.

Và đỉnh cao có thể chưa dừng lại, khi hai thành viên có ảnh hưởng lớn trong khối cổ phần là Ngân hàng Á châu (ACB) và Sài Gòn Thương Tín (Sacombank) đã vào cuộc, gia tăng thêm áp lực cạnh tranh.

Trên thị trường liên ngân hàng, đỉnh cao lãi suất qua đêm 30% được đề cập đến cuối tuần qua cũng nhanh chóng bồi thêm mốc mới. Kỷ lục của ngày giao dịch 18/2 đã lên đến 33%.

Những sắc thái mới

Đi cùng với lãi suất cao, VPBank củng cố thêm sức cạnh tranh bằng sản phẩm mới “Tiết kiệm bù lạm phát”. Đây là ngân hàng đầu tiên đưa ra loại sản phẩm này, thu hút sự chú ý của người gửi tiền trong bối cảnh lạm phát cao.

Cụ thể, ngoài mức lãi suất ban đầu, khách hàng sẽ được VPBank cam kết bù thêm một phần hoặc toàn bộ phần chênh lệch lãi suất giữa lãi suất tiền gửi và tỷ lệ lạm phát thực tế. Với sản phẩm này, lãi suất mà ngân hàng trả có thể lên tới 12% kỳ hạn 12 tháng.

Ông Lê Đắc Sơn, Tổng giám đốc VPBank, cho biết đây là một sản phẩm được xây dựng theo bối cảnh mới, có thể được sử dụng linh hoạt trong quý I/2008 (thời điểm căng vốn tại các ngân hàng thương mại).

Trong khi đó, SCB lại có một hình thức huy động đáng chú ý và khá hấp dẫn đối với những nguồn vốn nhàn rỗi trong ngắn hạn. Đó là việc áp lãi suất cao cho các khoản tiền gửi tính theo ngày, từ 2 đến 6 ngày, từ 0,35% đến 0,55%. Ngoài ra, ngân hàng này còn áp dụng hình thức cộng thêm lãi suất cho các khoản tiền tái gửi kỳ hạn 3 đến 12 tháng.

Dự báo một năm khó khăn

Thông tin lãi suất trong ngày 18/2 liên tục được các ngân hàng cập nhật để có ứng xử phù hợp. Đại diện một số thành viên tại miền Bắc cũng đã ngồi lại với nhau, thông qua Hiệp hội Ngân hàng, để cùng tìm hướng tháo gỡ khó khăn.

Ông Lê Đắc Sơn cho biết ngay cả khi trả mức lãi suất tới 33% trên thị trường liên ngân hàng cũng khó lòng vay được vốn. Những ngân hàng dư dật cũng hạn chế mở hầu bao bởi còn lo dự phòng cho chính mình. Trong khi đó, ông Sơn cho biết Ngân hàng Nhà nước vẫn chưa có hỗ trợ.

Sau khi điều chỉnh tăng lãi suất, một số ngân hàng đã bắt đầu có vốn để đáp ứng nhu cầu vay bức thiết của khách hàng ruột. Tại VPBank, sau kỳ “bế quan” từ trước Tết, bắt đầu từ ngày 18/2, hoạt động cho vay được nối lại nhưng chỉ dành cho những khách hàng đã có quan hệ tín dụng trước đó. Với riêng cho vay thuộc lĩnh vực bất động sản, cửa vẫn đóng.

Trao đổi với báo giới, ông Sơn cho rằng thời điểm khó khăn hiện nay sẽ ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh và lợi nhuận của các ngân hàng trong năm 2008. Lãi suất cho vay cũng buộc phải tăng cao và hậu quả là doanh nghiệp và người dân vay vốn phải gánh chịu.

Tại cuộc họp nói trên của đại diện các ngân hàng phía Bắc, khó khăn về vốn ảnh hưởng đến hoạt động cũng là vấn đề được đề cập đến. Đáng chú ý là một kiến nghị đã được đưa ra, đề nghị Ngân hàng Nhà nước tạm lùi thời điểm phát hành 20.300 tỷ đồng tín phiếu bắt buộc. Có thể kiến nghị này sẽ được xem xét.

Liên quan đến kế hoạch phát hành tín phiếu nói trên, nhà phân tích kinh tế Huỳnh Thế Du, Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright (Mỹ), lo ngại rằng Ngân hàng Nhà nước quá mạnh tay thắt chặt tín dụng đúng thời điểm nền kinh tế cần tiền nhất. Từ đây có thể dẫn tới mất thanh khoản cục bộ và ảnh hưởng đến an toàn hệ thống.

Đăng trong Thị Trường | Tagged: | Leave a Comment »

Rút được 2,6 tỷ đồng từ tài khoản ATM hết tiền

Đăng bởi longlong on 18/02/2008

Rút được 2,6 tỷ đồng từ tài khoản ATM hết tiền

Tài khoản ATM của khách hàng tại Eximbank đã hết tiền nhưng người giúp việc vẫn rút được 2,6 tỷ đồng chi tiêu cá nhân mà bà chủ không hề hay biết.

Huỳnh Ngọc Tâm (ngụ quận 6, TPHCM) là người làm công cho một cửa hàng trên đường Phan Văn Khỏe (phường 5, quận 6). Đầu tháng 11/2007, bà chủ tên A. giao cho Tâm hai thẻ ATM (một của Ngân hàng Đông Á, một của Eximbank) để đi rút tiền giùm bà do bạn hàng chuyển qua.

Bản thống kê cả ngàn lần Tâm
rút được hơn 2,6 tỷ đồng từ thẻ
ATM của Eximbank.

Khi đến máy ATM của Techcombank, Tâm đưa thẻ ATM của Ngân hàng Đông Á vào rút tiền nhưng máy báo không thực hiện được giao dịch. Tâm chuyển sang thẻ ATM của Eximbank thì rút được tiền. Đặc biệt, Tâm phát hiện điều khác lạ là dù tài khoản trong thẻ ATM của Eximbank không còn tiền nhưng vẫn rút được tiền.

Phát sinh lòng tham, Tâm chỉ trả lại cho bà A. thẻ ATM của Ngân hàng Đông Á và giấu luôn thẻ ATM của Eximbank. Vì biết tài khoản của mình trong thẻ ATM của Eximbank không còn tiền nên bà A. cũng không quan tâm đến thẻ này.

Cứ thế, Tâm liên tục rút tiền qua thẻ ATM của Eximbank cấp cho bà A. nhiều lần trong hơn hai tháng (kể từ ngày 7/11/2007 đến 11/1/2008). Tính đến ngày bị phát hiện, Tâm đã thực hiện giao dịch trót lọt 1.315 lần, rút được tới hơn 2,6 tỷ đồng.

Ngày 14/1/2008, khi Tâm tiếp tục rút tiền thì bị máy ATM của Techcombank nuốt thẻ. Ngân hàng này kiểm tra, phát hiện thẻ ATM của bà A. tài khoản không còn tiền nhưng rút được tiền tỷ qua máy ATM, liền báo cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TPHCM.

Cơ quan điều tra đã lấy lời khai của bà A. Bà A. thừa nhận có đưa cho Tâm thẻ ATM của Eximbank cấp cho bà. Tuy nhiên, bà không hề sử dụng số tiền mà Tâm rút từ thẻ này. Tâm khai nhận số tiền rút được Tâm đã mua một chiếc xe hơi, một chiếc xe máy, nhẫn kim cương, cho người khác vay…

Khám xét khẩn cấp nơi ở của Tâm, cơ quan điều tra thu giữ toàn bộ tài sản, chứng từ liên quan do thu nhập bất chính mà có. Trung tá Trương Văn Hòa, Đội trưởng Đội 8, Phòng PC14 Công an TPHCM, cho biết đến ngày 16/2, đã thu hồi, chuyển trả cho Eximbank khoảng 2,2 tỷ đồng. Còn lại trên 400 triệu đồng Tâm đã tiêu xài hết, không có khả năng chi trả.

Thượng tá Nguyễn Việt Dũng, Phó Thủ trưởng Cơ quan Cảnh sát điều tra (Công an TPHCM), khẳng định hành vi của Tâm có dấu hiệu phạm tội chiếm giữ trái phép tài sản. Cơ quan điều tra đang tiếp tục củng cố hồ sơ, xem xét xử lý hình sự đối với Tâm.

Theo Tâm Phúc –

Đăng trong Pháp Luật, Thị Trường | Tagged: | Leave a Comment »